Khái quát về pháp luật của các triều đại


-       Pháp luật thành văn: Sử sách cổ không cho biết cụ thể luật pháp thành văn ra đời từ khi nào. Từ thời Lý, việc làm luật đã được chú trọng, với sự ban hành bộ Hình thư và hàng loạt các lệnh của vua. Việc xây dựng luật pháp ngày càng được chú trọng và pháp luật thành văn trở thành nguồn luật chủ yếu. Nếu xét về hình thức vãn bản, pháp luật Đại Việt có nhiều hình thức phong phú, đa dạng.

Khái quát về pháp luật của các triều đại

-       Các văn bản đơn hành bao gồm lệnh, chiếu, chỉ, dụ sắc chế cáo v.v. trong đó chú yếu là các hình thức chiếu, chỉ, sắc dụ.

-         Các bộ sách hội điển, các tập luật lệ: Ngày nay chúng ta cũng chỉ biết được từ thời nhà Trần trở đi bắt đầu có các tập hội điển. Hậu Lê và Nguyễn là những thời có nhiều sách hội điển.

-         Bộ luật Theo sử sách cổ còn lại cho biết, các triều đại của phong kiến Đại Việt đã xây dựng được 5 bộ luật, bộ Hình thư đời Lý, bộ Hình thư đời Trần, bộ Quốc triều hình luật đời Lê, bộ Quốc triều khám tụng điều lệ đời Lê, bộ Hoàng Việt luật lệ đời Nguyễn. Trong đó, Quốc triều hình luật là bộ luật tiêu biểu nhất. Trừ bộ Quốc triều khám tụng điều lệ là bộ luật về tố tụng, các bộ luật khác đểu là những bộ luật tổng hợp bao gồm nhiều ngành luật: Luật hình sự, luật dân sự, luật hôn nhân gia đình, luật tố tụng… Nhưng hầu hết các điều khoản trong phần bản điều đều được trình bày dưới hình thức các quy phạm pháp luật hình sự. Phạm vi điều chỉnh của các bộ luật rất rộng, nó tác động tới hầu hết các lĩnh vực quan hệ xã hội. Các bộ luật thường có hiệu lực thời gian rất lâu dài. Mỗi một triều đại thường chỉ ban hành một bộ luật tổng hợp và nó có hiệu lực trong suốt thời gian tồn tại của triều đại đó. Điển hình về hiệu lực thời gian lâu dài là bộ Quốc triều hình luật triều Lê, trong hơn ba thế kỉ.

Về sự kết hợp giữa đức trị vi pháp trị trong luật pháp Đại Việt

     Nho giáo chủ trương dùng đức trị để xác lập và giữ gìn kỉ cương, trật tự xã hội phong kiến. Nội dung của đức trị là sự đòi hỏi mọi người trong xã hội xử sự theo khuôn phép của lễ giáo. Lễ của Nho giáo được thể hiện tập trung trong các quan hệ gia trưởng, quan hệ vua-tôi, quan hệ chồng-vợ, quan hệ cha mẹ-con cái, quan hệ anh-em, quan hệ thầy-trò… trong đó bầy tôi phải trung thành tuyệt đối với vua, vợ phải tiết nghĩa với chổng, con cái phải hiếu thảo với cha mẹ… Để cho các điều giáo lí ấy của đạo Khổng được mọi người tuân thủ triệt để, nhà làm luật phong kiến đã dùng đến những hình phạt rất nặng, hay nói cách khác, nếu lễ là mục đích, thì hình là biện pháp bảo vệ, hành vi nào xâm phạm đến lễ đều bị hình trừng phạt.

     Tư tưởng đức trị, lễ nghĩa của Nho giáo và sự kết hợp giữa với pháp trị, từng bước được thẩm thấu vào luật pháp Đại Việt thành tư tưởng chủ đạo của các nhà làm luật Đại Việt, nhất là từ thời Lê sơ trở đi. Vua Lê Thánh Tông đã đặt ra 24 điều giáo hóa, sức cho dân xã thường ngày giảng đọc, để giữ lấy luân thường đạo lí trong gia đinh và thuần phong mĩ tục trong xã hội, thực chất đây là những quy tấc lẻ nghĩa của đạo Nho. Năm 1662, Lê Huyền Tông ra một dạo chỉ gồm44 điều giáo hóa bổn phận làm con, làm cha mẹ, làm vợ, làm chồng trong gia đình, làm bạn, làm người trong làng nước, bổn phận của những người quản dân. Điều 30 đã tóm tắt cả tinh thẩn của đạo chỉ trong một câu, thể hiện cô đọng tư tưởng đạo Khổng về bổn phận làm người: “Làm người phái lấy tam cương, ngũ thường làm dường lối mà theo”. Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long, thực chất là sự thể chế hóa tư tưởng đức trị và lễ nghĩa của Nho giáo, thể hiện sự kết hợp giữa đức trị với pháp trị, giữa lễ và hình. Các nhà làm luật đã dự liệu đầy đủ và cụ thể các hình phạt nghiêm khắc đối với những hành vi trái với đạo trung quân, đức hiếu.
Xem thêm : Thủ tục mua bán đất ở, sang tên sổ đỏ, mua bán nhà...

Chức năng của Nhà nước

     Ngoài những chức năng giai cấp như các nhà nước phong kiến khác, Nhà nước Đại Việt còn có hai chức năng đặc biệt quan trọng, là chức năng tổ chức công cuộc chống ngoại xâm và chức năng tổ chức công cuộc trị thuỷ.
>>> Văn phòng luật sư Hà Nội

>>> Dịch vụ sang tên sổ đỏ

Chức năng của Nhà nước

     Hầu hết các triều đại đều phải đương đầu với họa ngoại xâm. Ngô Quyền chống Nam Hán, Tiền Lê và Lý chống Tống, Trần chống Nguyên Mông, triều Hậu Lê được thiết lập qua cuộc kháng chiến chống Minh, triều Tây Sơn chống Thanh. Mỗi khi có giặc ngoại xâm triều đình phong kiến là tiêu điểm đoàn kết và chỉ đạo toàn dân chống giặc. Mặt khác, nếu phong kiến Trung Hoa không xâm phạm bờ cõi nước Đại Việt thì các triều đại của Đại Việt đều dùng chính sách đối ngoại mềm dẻo, khôn khéo để tránh các cuộc đụng độ với những đế chế phương Bắc. Các vị vua Đại Việt thường nhận sự tấn phong vương và hàng năm triều cống cho Hoàng đế Trung Hoa.

     Công cuộc trị thuỷ-thuỷ lợi luôn được các triều đại chăm lo. Ví dụ: Hệ thống đê Cơ xá đã được xây dựng ở thời Lý. Ở thời Nguyễn, khối lượng đào đắp đê bằng tổng số khối lượng đào đắp đê điều của tất cả các triều đại trước. Theo sử sách cổ, từ thòi Lý, Trần trở đi, Nhà nước phong kiến đã đặt ra các chức quan chuyên trách về công việc đê điều, như chức hà đê chánh sứ, hà đê phó sứ. Luật pháp của Nhà nước phong kiến trừng phạt rất nặng những hành vi xâm hại đến đê điều và quy định trách nhiệm của quan lại ở các địa phương trong việc trông nom, tu bổ, bảo vệ đê điều, mương máng.

     Có thể nói, Nhà nước Đại Việt không chỉ để cao chức năng giai cấp mà còn chú trọng tới chức năng xã hội. Bởi vậy, Nhà nước vừa thể hiện bản chất giai cấp và ở mức độ nhất định, vừa biểu hiện tính dân tộc, tính nhân dân. Việc thực hiện chức năng xã hội đã góp phần củng cố vị trí thống trị của Nhà nước và tính dân tộc, tính nhân dân đã làm tính giai cấp của Nhà nước phong kiến Đại Việt không quá sâu sắc.
Xem thêm : Thủ tục mua bán đất ở, sang tên sổ đỏ, mua bán nhà...

Nhận xét về hình thức Nhà nước (P2)

Trong những thế kỉ X – XV, lễ nghi triều chính còn giản đơn, chưa ảnh hưởng nhiều của Nho giáo, ở nhiều triều đại, khi mà vua trở nên bất tài, bạc nhược, quan lại quý tộc trong triều đã tự động đưa người ngoài hoàng tộc nhưng có tài chí lên làm vua, như triều đinh nhà Đinh đưa Lê Hoàn lên ngôi, quan lại quý tộc nhà Tiền Lê tôn Lý Công uẩn làm đế. Còn rất nhiều những hiện tượng khác mà sau này bị các sử gia mang nặng tư tưởng Nho giáo phê phán gay gắt. Nhưng qua đó cũng chứng tỏ nền quân chủ trong thời kì đầu mới ở mức độ hạn chế.


Nhận xét về hình thức Nhà nước (P2)

Đến giai đoạn cuối từ thế kỉ XV trở đi, chính thể quân chù đã phát triển thành quân chủ chuyên chế. Từ đầu Lê sơ, cùng với việcNho giáo trở thành nền tang lí luận của Nhà nước quân chủ chuyên chế, trở thành hệ tư tướng chính thòng, giai cấp phong kiến đã bắt tay vào xây dựng chính chủ chuyên chế của mình. Với cuộc cải tổ thành công của Lê Thánh Tông, Nhà nước quân chủ chuyên chế được hoàn thiện. Đến triều Nguyễn, tính chuyên chế của nền quân chủ được tăng cường một bước mới.

Đương nhiên, chính thể quAn chủ Đại Việt dù là quân chủ chuyên chế vẫn luôn luôn dựa trên nền tảng trung ương tập quyền. Sự xác lập và hoàn thiện Nhà nước trung ương tập quyền do những nguyên nhân và dựa trên cơ sở sau đây:

-    Cộng đồng dân tộc Đại Việt và Nhà nước phong kiến thường xuyên phải đương đầu với hoạ xâm lăng từ phương Bắc.

-   Trị thuỷ và thuỷ lợi là công việc lớn lao và thường xuyên của cả cộng đồng dân tộc. Phải có một Nhà nước trung ương tập quyền mới có khả năng huy động đủ sức người, sức của và chỉ đạo, tổ chức công cuộc chống ngoại xâm và công cuộc trị thuỷ – thuỷ lợi.

-    Với chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất, các làng xã mặc dù mang nặng tính tự quản nhưng vẫn phải phụ thuộc vào Nhà nước quân chủ và là nơi cung cấp sức người, sức của cho nhà vua.

Tính chuyên chế của Nhà nước quân chủ Đại Việt không phát triển tói mức độ cực đoan như chế độ phong kiến Trung Quốc, bởi nếu chuyên chế cực đoan thì Nhà nước Đại Việt khó có thể đoàn kết được cả cộng đồng dân tộc trong công cuộc chống thiên tai và địch họa.

Xem thêm : Thủ tục mua bán đất ở, sang tên sổ đỏ, mua bán nhà...

Nhận xét về hình thức Nhà nước (P1)

Nếu xét về hình thức cấu trúc của Nhà nước thì các nhà nước phong kiến nói chung có hai hình thức: Phân quyền cát cứ (điển hình ở phương Tây) và trung ương tập quyền (phổ biến ở phương Đông). Ở Đại Việt, ngay từ thế kỉ X, Nhà nước trung ương tập quyển đã được xác lập, tuy chưa vũng chắc. Từ đó trở di, Nhà nước trung ương tập quyển từng bước được củng cố. Trong gần một ngàn năm, có một sò thời gian ngắn, quốc gia Đại Việt lâm vào trạng thái phân quyển cát cứ như loạn 12 sứ quân, Nam – Bắc triều, Trịnh – Nguyền phán tranh 1 nhưng nhìn chung xu hướng tập quyền là chủ yếu, Nhà nước phong kiến Đại Việt là Nhà nước trung ương tập quyền.


Nhận xét về hình thức Nhà nước (P1)

Nếu xét về hình thức chính thể của Nhà nước, thì các nhà Ị nước phong kiến nói chung chỉ có một hình thức là chính thể Ị quân chủ phong kiến. Chính thể quân chủ phong kiến Đại Việt trải qua hai giai đoạn phát triển.

Trong giai đoạn đầu, từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XV (trước thời Lê sơ), sự tập trung quyền lực nhà nước vào nhà vua mới ở mức độ hạn chế. Tổ chức bộ máy nhà nước của mấy triều đại đầu tiên (Ngó, Ị Đinh, Tiền Lê) còn rất đơn giản, với những vị vua còn mang đậm Ị dáng dấp của những vị thủ lĩnh và phong cách cai trị đậm màu dẫn dã. Những vị quân vương thời Lý Trần tuy đã chuyên quyền nhưng chưa chuyên chế, vừa là vua của nước, vừa là thủ lĩnh của cả cộng đồng dân tộc. Những ông vua thời Lý hay cải trang làm thường dân về các vùng quê xem dân cày cấy, hội hè. Những vị vua Lý, Trần thường sớm từ bỏ quyền lực, nhường ngồi cho con để vào chùa nương nhờ cửa phật hoặc làm thái thượng hoàng. Mỗi khi quốc gia có việc hệ trọng, các vị quân vương thường mang ra bàn bạc rất với các quần thần hoặc hỏi ý kiến của thần dân. Điển hình như Hội nghị Bình Than và Hội nghị Diên Hồng ở đời Trần, bàn kế sách và hạ quyết tâm chống quân xâm lược Nguyên Mông.

Xem thêm : Thủ tục mua bán đất ở, sang tên sổ đỏ, mua bán nhà...