Hoàng Việt luật lệ (bộ luật Gia Long)

          Bộ luật có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Đại Nam từ 1815 đến 1883, điều chỉnh mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế-xã hội. Từ sau 1884, bộ Hoàng Việt luật lệ mất hiệu lực từng phần dưới sự tác động của chính quyền và luật pháp thực dân.
>>> Luật sư giỏi ở Hà Nội

>>> Thủ tục mua bán nhà


Hoàng Việt luật lệ (bộ luật Gia Long)



            Nội dung bộ Hoàng Việt luật lệ

           Những quy định trong lĩnh vực hình sự

           Nội dung pháp luật hình sự chủ yếu được trình bày từ Quyển:

          –  Hình phạt

          Được trình bày khái quát trong Danh lệ, Điều 1 và được quy định cụ thể, chi tiết trong hầu hết các điều của Hoàng Việt luật lệ. So với bộ Quốc triều hình luật triều Lê, hình phạt trong Hoàng Việt luật lệ có tính hà khắc hơn. Hình phạt bao gồm Ngũ hình và các hình phạt ngoài ngũ hình:

          –   Ngũ hình:

+ Xuy hình (đánh bằng roi): Có 5 bậc, từ 10 đến 50 roi, mỗi bậc tăng 10 roi.

+ Trượng hình (đánh bằng gậy): Có 5 bậc, từ 60 đến 100 trượng, mỗi bậc tăng 10 trượng. Ngoài các tội thập ác, phụ nữ phạm tội thông gian, trộm cắp có thể đổi trượng sang xuy, cứ một trượng đổi thành 2 xuy.

+ Đồ hình (tù khổ sai): Có 5 bậc: 1 năm với 60 trượng; 1,5 năm với 70 trượng; 2 năm với 80 trượng; 2,5 năm với 90 trượng; 3 năm với 100 trượng. Đồ được áp dụng cho trường hợp phạm tội tương đối nặng. Cho gửi phạm nhân về quản thúc nơi trấn họ ở, bắt phải làm mọi việc nặng nhọc từ 1 đến 3 năm thì chấm dứt. Suốt thời kì chấp hành hình phạt, họ bị xiềng chân. Phép “Nhuận đồ”: Đối với một số tội luật Gia Long cho đổi từ 3 bậc lưu sang 4 năm đồ; Tạp phạm bị treo cổ, chém đổi sang 5 năm đồ.

+ Lưu hình (đi đày): Có 3 bậc: 2000 dặm với 100 trượng; 2500 dặm với 100 trượng; 3000 dặm với 100 trượng. Lưu được áp dụng cho phạm nhân tội dù nặng nhưng chưa đáng phải chết. Họ bị lưu đày vĩnh viễn nơi xa, cả đời không được trở về cố hương. Phạm nhân có thể đem theo vợ con, gia đình. Tại nơi lưu đày, họ được cấp đất, trâu cày và công cụ để tự lao động cải tạo.

+ Tử hình (giết chết): Có 2 bậc: treo cổ (giảo) và chém (trảm). Hoàng Việt luật lệ còn quy định về phép “Nhuận tử” (chết 2 lần) bao gồm: Lăng trì (xẻo chậm); Trảm kiêu (chém bêu đầu) và Lục thi (chặt xác chết).



Văn bản và cấu trúc của Hoàng Việt luật lệ

-  Minh Mệnh Chính yếu: Cũng là bộ sách tập hợp văn bản pháp luật do Hoàng đế ban hành. Việc phân loại chủ yếu căn cứ vào lĩnh vực chuyên môn, theo thời gian ban hành bộ sách gồm 25 quyển.
>>> Luật sư giỏi ở Hà Nội

>>> Thủ tục mua bán nhà

-  Đại Nam Điển Lệ toát yếu: Là bộ hội điển được biên soạn lại tập hợp văn bản pháp luật từ Gia Long đến Thành Thái.

Văn bản và cấu trúc của Hoàng Việt luật lệ

Bộ Hoàng Việt luật lệ

      Về văn bản và cấu trúc của Hoàng Việt luật lệ

      Về văn bản

      Hiên nay trong tàng thư Việt Nam còn lưu giữ hai bản gốc bằng chữ Hán của bộ Hoàng Việt luật lệ. Bản thứ nhất, khắc in tại Trung Quốc, nguyên bản được lưu giữ tại thư viện Sài Gòn trước đây, nay là Thư viện Thành phố Hồ Chí Minh. Bộ luật này trước thuộc tủ sách của gia đình Khâm sai đại thần Nguyễn Tri Phương. Bản này bị mất một số tập đầu. Bản thứ hai, khắc in tại Việt Nam, gồm 22 quyển, đóng thành 10 tập với số lượng 1.800 trang. Bản in tại Việt Nam đầy đủ hơn so với bản in tại Trung Quốc.

      Năm 1956 đến 1958, một số quyển Hoàng Việt luật lệ đã được dịch sang tiếng Việt (do tiến sĩ Hán học Nguyên Sĩ Giác đã dịch, giáo sư Vũ Văn Mẫu viết lời giới thiệu). Viện sử học Việt Nam có bản dịch đầy đủ 22 quyển. Năm 1994 Nhà xuất bản Văn hoá thông tin xuất bản Bộ luật này theo bản dịch của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Vãn Tài. Có thể coi đây là bản dịch bộ Hoàng Việt luật lộ đầy đủ nhất.

         Về cấu trúc

       - Cấu trúc bộ luật: Bộ Hoàng Việt luật lộ gồm 398 điểu, chia thành 22 quyển. Việc chia quyển đã bước đầu có sự phân ngành, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình áp dụng pháp luật. Mở đầu bộ luật in lời Tựa của đương kim Hoàng đế Gia Long khẳng định tư tưởng chính trị pháp lí cơ bản của triều Nguyễn là: ‘Thánh nhân cai trị thiên hạ đều dùng luật pháp để xử tội dùng dạo đức để giáo hoá họ, hai điều ấy không thiên bên nào bỏ bên nào ” “pháp luật là công cụ giúp cho việc cai trị thêm tốt đẹp”. Tiếp sau là Tổng mục vềluật, lộ của vua Việt Nam. Phần Danh lộ và Bản điều được sắp xếp như sau:

        -  Quyển 1, 2, 3: Ghi mục lục về luật các biểu đổ giá chuộc; năm hình phạt, nguồn gốc, ý nghĩa của hình phạt; đổ hình cụ, tang chế. Giải thích một số điểm trọng yếu của luật, cách xử lí tài sản bất hợp pháp. Danh lệ về thập ác và chủ yếu là những điều luật quy định về nguyên tắc chung (45 điều).

Cơ quan phụ tá cấp cao của triều Đình

Tứ trụ triều đình và Hội đồng phụ chính
>>> Luật sư giỏi ở Hà Nội

>>> Thủ tục mua bán nhà

     Trong triều, bốn viên quan đại thần cao cấp nhất mang hàm chánh nhất phẩm và tước hiệu đại học sĩ được gọi là tứ trụ triều đình và có chức năng tư vấn cao cấp cho nhà vua.

Cơ quan phụ tá cấp cao của triều Đình

     Trong những trường hợp vua còn nhỏ tuổi hoặc vua vắng mặt, bốn viên quan cao cấp đó sẽ giữ cương vị các phụ chính đại thần và tạo nên Hội đồng phụ chính với chức năng thay mặt vua điều hành công việc trong triều đình.

     Từ Đạo Dụ ngày 27/9/1897 của vua Khải Định (được Nghị định ngày 28/9/1897 của Toàn quyền Đông Dương chuẩn y), Hội đồng phụ chính bị bãi bỏ, bốn viên phụ chính đại thần được chuyển thành các cố vấn đặc biệt của nhà vua. Cố vấn có quyền mật đàm với vua về mọi vấn đề và sau đó thay mặt nhà vua hội đàm với Khâm sứ Pháp.

     Sau khi vua Khải Định chết (ngày 6/11/1925), vua Bảo Đại vắng mặt vì đang du học ở Pháp nên đương nhiên Hội đồng phụ chính được tái lập, do Chủ tịch Hội đồng đứng đầu. Hội đồng phụ chính và Chủ tịch Hội đồng Phủ tôn nhân đã kí với Toàn quyền Đông Dương  bản Quy ước ngày 6/11/1025, trong đó quy định mọi vấn đề có liên quan đến ngành tư pháp, tổ chức các công sứ, tuyển dụng, thăng giáng quan lại các cấp của Nam triều… đều năm trong tay Khâm sứ. Như vậy, từ đây chức năng của Hội đồng phụ chính chỉ còn là thay mặt vua để tế lễ trời đất, sắc phong cho các thành hoàng làng và ban một số tước hiệu cho quan lại mà thôi.

Từ khi Bảo Đại về nước (tháng 9/1932), Hội đồng phụ chính bị giải thể.

Các bộ:

     Các bộ có nhiều biến đổi hơn những cơ quan khác. Lúc đầu, Nam triều vẫn có lục bộ như trước Pháp thuộc. Năm 1908, triều đình lập thêm một bộ mới là Bộ học, sau đó từ năm 1932 được mang tên là Bộ quốc gia giáo dục.

     Năm 1933, dưới sức ép của Pháp, Bảo Đại bãi bỏ Bộ binh và Nam triều có 5 bộ là Bộ lại, Bộ quốc gia giáo đục, Bộ tài chính và cứu tế xã hội, Bộ tư pháp, Bộ công chính, mĩ nghệ và lễ tân.

     Từ năm 1937 trở đi có 7 bộ: Bộ lại, Bộ quốc gia giáo dục, Bộ tài chính, Bộ tư pháp, Bộ lê tân, Bộ công chính và Bộ kinh tế nông thôn.

     Về tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của bộ, theo Đạo Dụ ngày 27/9/1897 của vua Thành Thái, đứng đầu bộ là thượng thư, còn tả thị lang phụ trách các công việc có liên quan đến bộ thuộc phạm vi các tỉnh phía nam kinh đô vào đến tỉnh Bình Thuận và kiêm cả công tác đối ngoại của bộ, hữu thị lang phụ trách các công việc có liên quan đến bộ trong phạm vi các tỉnh phía bắc kinh đô. Trong bộ có các ti do tham tri đứng đầu. Ở bộ còn có các chức lang trung, tả lí, viên ngoại, chủ sự, tư vụ… Theo Đạo dụ ngày 2/5/1933 của Bảo Đại, các viên đại biện Pháp bên cạnh các bộ được đổi gọi bằng chức danh “Cố vấn kĩ thuật”.

     Công việc nào quan trọng của mỗi bộ phải được đem sang bàn bạc ờ Viện cơ mật và phải được sự chấp thuận của Khâm sứ, trước khi nhà vua kí ban bố. Còn những loại việc khác do bộ tự giải quyết.

Viện cơ mật và Hội đồng thượng thư

     Viện cơ mật đặt dưới sự chủ toạ của nhà vua và giúp vua đề ra đường lối chung bao trùm mọi lĩnh vực. Lúc đầu Viện cơ mật chỉ gồm 4 thượng thư của các bộ quan trọng nhất (thông thường những thượng thư này là tứ trụ triều đình và là các phụ chính đại thần. Cả 6 thượng thư của lục bộ hợp thành Hội đồng thượng thư, một trong 6 thượng thư giữ chức Chủ tịch Hội đồng thượng thư và vua có quyền chủ toạ. Chức năng của Hội đồng thượng thư là họp bàn giải quyết những công việc cùng liên quan tới các bộ.

     Đạo Dụ ngày 27/9/1897 mở rộng thành phần Viện cơ mật gồm cả 6 thượng thư, như vậy đương nhiên Hội đồng thượng thư không còn nữa.

     Quy ước ngày 6/11/1925 quy định: Các thượng thư khi họp mà do vua chủ toạ thì được gọi là Viện cơ mật, còn nếu đặt dưới sự chủ         toạ của Khâm sứ thì được gọi là Hội đồng thượng          thư. Từng viên thượng thư có quyền ra nghị định, thông tư cho riêng bộ, còn Hội đồng thượng thư có quyền ra điều lệ, quy chế (nguyên văn thuật ngữ dùng trong Dụ).

Viện đô sát

     Chức năng của Viện đô sát (tức Ngự sử đài) là kiểm soát mọi hoạt động của quan lại các cấp và giám sát việc thi hành luật pháp. Đứng đầu Viện đô sát là Đô ngự sử hay còn được gọi là Kiểm quan. Ngoài ra còn có các chức như Chưởng ấn, Ngự sử.  Từ năm 1897, Viện đô sát bị đặt dưới sự chủ tọa của Khâm sứ.

Hội đồng Phủ tôn nhân

     Chủ tịch Hội đồng là một người trong họ nhà vua có cấp bậc cao, giúp việc có tả tôn khanh và hữu tôn khanh.

     Chức năng của Hội đồng là giải quyết các vấn đề có liên quan đến các thân vương, công tử, công tôn… của nhà vua; chỉ định người cai quản lăng miếu của dòng họ vua; tư vấn cho vua chọn người kế vị ngai vàng. Cũng từ năm 1897, Hội đồng Phủ tôn nhân bị đặt dưới sư chủ tọa của Khâm sứ.      

Văn phòng của nhủ vua

     Đây là cơ quan giúp vua giải quyết một số công việc thường nhật và tổng hợp tình hình trình lên vua. Đứng đầu Văn phòng là chức đổng lí.

Tìm hiểu về triều Nguyễn và Vua Nguyễn

Bản chất của Triều Nguyễn
>>> Luật sư giỏi ở Hà Nội

>>> Thủ tục mua bán nhà

     Trong thời Pháp thuộc, triều Nguyễn (hay còn được gọi là Nam triều hoặc “Chính phủ Nam triều”), tuy vẫn mang hình thức chính thể quân chủ nhung đất nước đã mất độc lập chủ quyền và dưới ách thống trị của chủ nghĩa tư bản phương Tây, nên chính quyền phong kiến bản xứ đã có những biến đổi lớn lao so với thời kì phong kiến độc lập tự chủ trước đây.

Tìm hiểu về triều Nguyễn và Vua Nguyễn

     Về không gian lãnh thổ, Nam Kì là đất “thuộc địa” nên chính quyền nhà Nguyễn về hình thức chỉ tồn tại ở Trung Kì và Bắc Kì (đất “bảo hộ” và “nửa bảo hộ”). Như vậy, về mặt hình thức, ở Trung Kì và Bắc Kì tồn tại song song hai hệ thống chính quyền: Chính quyền của người Pháp và chính quyền Nam triều.

     Về quyền lực nhà nước, nhà Nguyễn không nhừng chỉ còn tồn tại ở Trung Kì và Bắc Kì mà cũng không còn có quyền lực của một nhànước và trở thành chính quyền tay sai bù nhìn, một bộ phận của chính quyền thực dân. Đây là sự biến đổi cơ bản của nhà Nguyễn.

     Về tổ chức bộ máv,chính quyền phong kiến nhà Nguyễn tuy vẫn mang hình thức chính thể quân chủphong kiến và hệ tư tưởng Nho giáo nhưng cũng đã có một số biến đổi do sự chỉ đạo của Pháp và do ảnh hưởng phần nào đó của thể chế tư sản phương Tây. Những biến đổi cơ bản hoặc không cơ bản trên được thể hiện cụthể trong tổ chức hộ thống chính quyền cũng như địa vị pháp lí và mối quan hệ của nó với chính quyền thực dân.

Vua Nguyễn

     Trong thời thuộc Pháp, nếu tính từ khi người Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam năm 1884 đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, triều Nguyễn trải qua 6 đời vua sau đây:

- Hàm Nghi: Tức Ưng Lịch, năm 13 tuổi đã được lên ngôi vua, làm vua được 1 năm (tháng 8/1884 đến 8/1885) thì rời bỏ kinh thành ra Quảng Trị ra chiếu Cần Vương chống Pháp, sau đó bị Pháp bắt và đày đi Angiêri năm 1888.

- Đồng Khánh: Tức Ưng Đường, sinh năm 1864, ở ngôi được 3 năm (tháng 10/1885 đến 12/1888), mất lúc 25 tuổi.

- Thành Thái: Tức Bửu Lân, lên ngôi lúc 10 tuổi và làm vua được18 năm(từ tháng 1/1889 đến 7/1907), vì nhiều lần không phục tùngPháp nên bị truất ngôi lúc 28 tuổi và bị đày sang châu Phi, từ năm1947 được phép về sinh sống ở Sài Gòn.

- Duy Tân: Tức Vĩnh San, lên ngôi lúc mới 8 tuổi, làm vua được9 năm (1907 – 1916) thì bị Pháp đày đi châu Phi vì nhà vua có hànhđộng chống Pháp.

- Khải Định: Tức Bửu Đảo, sinh năm 1884, lên ngôi vua lúc 32 tuổi và làm vua được 9 năm thì mất (1916 – 1925).

- Bảo Đại: Tức Vĩnh Thụy, từ lúc 10 tuổi (năm 1922) đã được đưasang giáo dục và đào tạo tại Pháp, làm vua 19 năm (1926 – 1945),        tháng 8 năm 1932, Bảo Đại mới trở về Việt Nam.

     Vua Nguyền tuy vẫn mang danh hiệu hoàng đế nhưng đã trở thành vua bù nhìn, dưới sự chỉ đạo và giám sát trực tiếp của viên Khâm sứ Pháp ở Trung Kì. Mọi quyết định quan trọng của vua trước khi ban bố cho bầy tôi và thần dân của mình đều phải qua sự kiểm duyệt và thỏa thuận của người Pháp. Vua chỉ có quyền bổ nhiệm các quan lai ở triều đình và ở Trung Kì từ chánh nhất phẩm đến tòng tam phẩm nhưng phải được sự chuẩn y của Khâm sứ Pháp, còn quan lại từ chánh tứ phẩm trở xuống do chính Khâm sứ bổ nhiệm, ở Bắc Kì tất cả các quan lại đều do Thống sứ Pháp bổ nhiệm. Thậm chí từ năm 1894, ngân sách Nam triều bị sáp nhập vào ngân sách bảo hộ. Không những các quan lớn nhỏ mà đến cả vua cũng do Pháp trả lương, vua tôi nhà Nguyễn trở thành những công chức lĩnh lương hàng tháng của thực dân. Ví dụ: Số tiền mà Pháp chi cho triều đình Huế năm 1899 là 959.860 đồng Đông Dương (chiếm 52% tổng số chi ngân sách Trung Kì), năm 1913 là 954.175 đồng (chiếm 24%).