Khái quát về toàn quyền Đông Dương

      Cùng với việc thành lập Liên bang Đông Dương là việc định ra chức danh Toàn quyền Đông Dương. Ngày 17/10/1887, Tổng thống Pháp kí Sắc lệnh quy định quyền lực của Toàn quyền Đông Dương và được bổ sung bằng các sắc lệnh tiếp theo, ví dụ Sắc lệnh ngày 12/11/1887, ngày 21/4/1891…
Khái quát về toàn quyền Đông Dương

      Về địa vị pháp lí của Toàn quyển Đông Dương, quan chức đứng đầu Đông Dương được Tổng thống Pháp bổ nhiệm bằng sắc lệnh là “Người được uỷ nhiệm thi hành những quyền lực của nước Cộng hoà Pháp tại Đông Dương”. Toàn quyền Đông Dương là người thay mặt cho Nhà nước Pháp và chịu trách nhiệm trước Nhà nước Pháp về mọi mặt ở Đông Dương. Toàn quyền Đông Dương chịu sự giám sát và kiểm soát của Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp.

Về quyền hạn, Toàn quyền Đông Dương có rất nhiều quyền hành:

- Quyền ra các nghị định mang tính lập pháp hoặc hành phápở Đông Dương.

- Quyền cai trị tối cao ở Đông Dương. Toàn quyền Đông Dương là người tổ chức và quy định chức năng, quyền hạn, cho các công sở ở Đông Dương. Những quan chức đứng đầu các cơ quan cấp liên bang Đông Dương và cấp xứ đều dưới quyền chỉ đạo và giám sát trực tiếp của Toàn quyền.

 - Chịu trách nhiệm chung về quân sự, có quyền lập các đạo quan binh, phân bố lực lượng quân đội, ban hành lệnh bắt lính… song không trực tiếp chỉ đạo chiến dịch quân sự. Việc trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch thuộc quyền các sĩ quan cao cấp.

- Quyền chỉ đạo, giám sát hệ thống toà án của Pháp ở Đông Dương.

- Quyền trực tiếp liên hệ với các nhân viên ngoại giao của Pháp và các lãnh sự Pháp ở khu vực Viễn Đông, song không được tự ý thương lượng ngoại giao với các nước khi chưa có sự chuẩn y của Chính phủ bên chính quốc.

      Như vậy, Toàn quyền Đông Dương, một mặt chịu sự chỉ đạo, giám sát của chính quốc, mật khác nắm quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp ở Đông Dương, chi phối mọi mặt hoạt động của bộ máy cai trị ở Đông Dương, trong đó có Việt Nam. Trong thời Pháp thuộc có 33 viên Toàn quyền.

      Những quyền hạn mà chính quốc trao cho thuộc địa Đông Dương đều tập trung vào Toàn quyền Đông Dương nên các cơ quan khác ở cung cấp Liên bang Đông Dương chỉ phụ tá cho Toàn quyền Đông Dương.

Từ khóa tìm kiếm nhiều nhất : thủ tục mua bán đất ở, thủ tục mua bán nhà

Sự thành lập Liên bang Đông Dương và các quy chế chính trị

      Ngày 17/10/1887, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập “Liên bang Đông Dương” thuộc Pháp. Sắc lệnh này cùng với một số sắc lệnh được ban hành sau đó quy định về Toàn quyền Đông Dương là những văn bản tạo ra cơ sở pháp lí cơ bản để hoàn thiện và củng cố chính quyền thuộc địa ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng. Khi mới thành lập, Liên bang Đông Dương gồm Việt Nam và Campuchia. Sắc lệnh ngày 19/4/1889 đưa Lào vào Liên bang Đông Dương và từ năm 1890 thêm Quảng Châu Loan (vùng đất mà Pháp đã chiếm được của Trung Quốc). Liên bang Đông Dương do Bộ thuộc địa Pháp trực tiếp quản lí.

>>> Văn phòng luật sư Hà Nội

>>> Dịch vụ sang tên sổ đỏ

Sự thành lập Liên bang Đông Dương và các quy chế chính trị

     Về quy chế chính trị, toàn liên bang Đông Dương là đất thuộc địa của Pháp, là lãnh thổ hải ngoại của nước Pháp. Liên bang Đông Dương gồm các xứ với những quy chế chính trị tương ứng sau đây:

- Lào: Quy chế “bảo hộ”.

- Campuchia: Quy chế “bảo hộ”.

- Quảng Châu Loan: Quy chế “lãnh địa thuê”.

- Bắc Kì (từ Ninh Bình ra Bắc): Quy chế “nửa bảo hộ” (trừ hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng theo quy chế đất “thuộc địa”).

- Trung Kì (từ Thanh Hoá vào tối Bình Thuận): Quy chế “bảo hộ” (trừ thành phố Đà Nẵng theo quy chế “thuộc địa”).

“ Nam Kì: Quy chế “thuộc địa”.

      Dù quy chế chính trị khác nhau nhưng thực chất đều là thuộc địa.

      Ba xứ ở Việt Nam thường được người Pháp gọi chung bằng một địa danh “An Nam thuộc Pháp”. Nam Kì, Trung Kì, Bắc Kì hưởng các quy chế chính trị khác nhau, nên có những hình thức tổ chức chính quyền và các quy chế pháp lí khác nhau.

     Như vậy, Việt Nam và các nước khácở Đông Dương đã mất độc lập và toàn bộ chủ quyền. Với việc thiết lập Liên bang Đông Dương và chia nước ta ra làm ba kì, người Pháp đã bắn một mũi tên nhưng nhằm tới hai đích, một là thống nhất bộ máy thuộc địa  ở toàn Đông Dương để thuận lợi cho sự cai trị; hai là chia để trị, hòng xoá bỏ sức mạnh thống nhất và đoàn kết đấu tranh của dân tộc Việt Nam.


Từ khóa tìm kiếm nhiều nhất : thủ tục mua bán đất ở, thủ tục mua bán nhà

Quá trình xâm lược nước ta của Thực dân Pháp

      Sau một thời gian thăm dò và chuẩn bị, ngày 1/9/1858, đế quốc Pháp nổ súng tấn công vào bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cho thời kì xâm lược và thống trị thực dân ở Việt Nam. Bị sa lầy ở mặt trận Đà Nẵng, Pháp phải thay đổi kế hoạch tấn công và đem quân vào đánh Gia Định. Do cuộc kháng Pháp rộng khắp và bền bỉ của nhân dân ta, kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của ngườiPháp bị thất bại và việc xâm chiếm Việt Nam phải kéo dài gần ba thập kỉ. Trong quá trình đó, Pháp đã thực hiện phương châm “tằm ăn lá”, là chiếm dần đất, lấn dần chủ quyền và từng bước thiết lập bộ máy cai trị.

>>> Văn phòng luật sư Hà Nội

>>> Dịch vụ sang tên sổ đỏ

Quá trình xâm lược nước ta của Thực dân Pháp

     Tháng 2/1859, Pháp chiếm Gia Định; tháng 4/1861 chiếm Định Tường (Mĩ Tho); tháng 12/1861 chiếm Biên Hoà. Ngày 5/6/1862, nhà Nguyễn kí với Pháp một hiệp ước 12 điều khoản nhường hẳn cho Ị Pháp 3 tỉnh trên. Đến ngày 14/3/1874, triều đình Huế kí tiếp bản hiệp ước thứ haichính thức xác nhận lục tỉnh Nam Kì là đất thuộc địa của Pháp (thêm 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên). Quá trình mở rộng xâm lược đó cho đến năm 1879, đây là quá trình Pháp xác lập được bộ máy cai trị ở Nam Kì.

      Từ năm 1882, Pháp mở rộng xâm lược ra phía Bắc. Ngày 25/8/1883,nhà Nguyễn kí Hiệp ước thừa nhận nền thống trị của Pháp trên toàn ! bộ lãnh thổ Việt Nam. Ngày 6/6/1884, Pháp buộc nhà Nguyễn kí hiệp ước mới với nội dung cơ bản là khẳng định lại nội dung Hiệp – ước năm 1883. Cũng như trước đây ở Nam Kì, trong quá trình đánh chiếm đất Bắc, Pháp đã xác lập dần bộ máy chính quyền thuộc địa ởBắc Kì và Trung Kì.

     Sau khi đánh chiếm Bắc Kì và Trung Kì, kể từ Hiệp ước năm 1883 và Hiệp ước năm 1884, Pháp chuyển hai xứ này trực thuộc Bộ chiến tranh Pháp, sau đó sang Bộ ngoại giao, trong khi Nam Kì vẫn trực thuộc Bộ hải quân và thuộc địa. Sự thiếu thống nhất này đã gây cho Pháp không ít khó khăn. Trước tình hình đó và để tăng cường, ổn định nền thống trị, đẩy mạnh khai thác thuộc địa, Pháp đã tiến hành hoàn chỉnh và củng cố một bước mới chính quyền thuộc địa.


Từ khóa tìm kiếm nhiều nhất : thủ tục mua bán đất ở, thủ tục mua bán nhà

Thể chế nhà nước và pháp luật Đại Việt

     Thể chê nhà nước và pháp luật Đại Việt – Sự kết hợp những yếu tố đặc trưng của người Việt với những yếu tố chính trị pháp lí Trung Quốc.

>>> Văn phòng luật sư Hà Nội

>>> Dịch vụ sang tên sổ đỏ

Thể chế nhà nước và pháp luật Đại Việt

     Dân tộc Đại Việt có nền văn hóa riêng, có hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội và thần dân cụ thể với nhiều nét khác biệt so với Trung Quốc. Những đặc điểm đó đòi hỏi phải có thể chế nhà nước và pháp luật phù hợp. Tuy nhiên, Trung Quốc là nước có nền văn hóa lâu đời và phát triển rực rỡ. Đại Việt ở sát cạnh và đã từng bị ách đô hộ hơn một ngàn năm của phong kiến Trung Quốc nên đương nhiên chịu ảnh hưởng nhiều của văn hóa Hán. Trong đó, Nhà nước và pháp luật chịu ảnh hưởng nhiều nhất, bởi đây là lĩnh vực thượng tầng kiến trúc của giai cấp thống trị.

     Trong hoàn cảnh đó, vua chúa Đại Việt phải chú trọng đến điểu kiện, hoàn cảnh cụ thể và phát huy các yếu tố truyền thống của đất nước mình đồng thời tiếp thu tinh hoa chính trị-pháp lí của các triều đại phong kiến phương Bắc để có những thể chế nhà nước và pháp luật phù hợp với Đại Việt.

     Về thể chế nhà nước: Rất nhiều chức danh nhà nước và cơ quan nhà nước được tiếp thu từ phong kiến Trung Quốc như lục bộ, lục tự, lục khoa, Ngự sử đài, Quốc sử viện, Tôn nhân phủ… tam công cửu khanh, thượng thư, thị lang, tể tướng… hệ thống các tước, phẩm, tư V.V.. Nhưng mặt khác, như đã được trình bày cụ thể ở các chương trước, sự mô phỏng mô hình Nhà nước Trung Hoa còn rất mờ nhạt ở các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, mới bước đầu rõ nét ở thời Lý, Trần và chỉ đậm đặc từ triều Lê. Dù ở các vương triều Lý, Trần hay ở các triều đại Lê, Nguyễn thì đó cũng là sự mô phỏng đã được đẽo gọt về quy mô và có phần đơn giản về quy chế, lễ nghi; uyển chuyển về hình thức. Thể chế Nhà nước Đại Việt không quá cổng kềnh, phức tạp và mang tính xơ cứng, quan liêu như ở Trung Quốc. Nhiều vị vua của Đại Việt chưa phải là những vị đế vương chỉ ngồi trong cung điện, bó mình trong tháp ngà, cách biệt hẳn với thần dân. Tư tưởng và nhiều quy- chế chính trị của Nho giáo được vận dụng một cách mềm dẻo, thậm chí có khi không được áp dụng ở Đại Việt, nhất là từ thời Lý, Trần trở về trước.

     Ví dụ: Trong một số triều đại, triều đình tự nguyện đưa người khác hoàng tộc lên ngôi, việc làm đó trái hẳn với tư tưởng chính trị của Nho giáo. Nhiều vị vua trong chế độ phong kiến Đại Việt đã truyền ngôi cho con thứ, không truyền cho người con trưởng thiếu tài đức (trái với nguyên tắc trọng trưởng của Nho giáo). Thậm chí, ở cuối triều Lý, ngôi vua còn được truyền cho con gái trái với nguyên tắc trọng nam. Các vua thời Đinh, Tiền Lê và đầu Lý, mỗi vị thường lập đồng thời nhiều hoàng hậu. Hoặc vai trò của thái thượng hoàng đời Trần cũng có nhiều điểm khác biệt với những thái thượng hoàng từng có ở Trung Hoa V.V.. Nhiều quan chức, cơ quan nhà nước của Đại Việt nhất là ở thế kỉ X, ở chính quyền Đàng Trong và Phủ chúa Trịnh Đàng Ngoài, hầu như không tìm thấy trong quan chế phương Bắc.



Từ khóa tìm kiếm nhiều nhất : thủ tục mua bán đất ở, thủ tục mua bán nhà