Trong những thế kỉ X – XV, lễ nghi triều chính còn giản đơn, chưa ảnh hưởng nhiều của Nho giáo, ở nhiều triều đại, khi mà vua trở nên bất tài, bạc nhược, quan lại quý tộc trong triều đã tự động đưa người ngoài hoàng tộc nhưng có tài chí lên làm vua, như triều đinh nhà Đinh đưa Lê Hoàn lên ngôi, quan lại quý tộc nhà Tiền Lê tôn Lý Công uẩn làm đế. Còn rất nhiều những hiện tượng khác mà sau này bị các sử gia mang nặng tư tưởng Nho giáo phê phán gay gắt. Nhưng qua đó cũng chứng tỏ nền quân chủ trong thời kì đầu mới ở mức độ hạn chế.
Đến giai đoạn cuối từ thế kỉ XV trở đi, chính thể quân chù đã phát triển thành quân chủ chuyên chế. Từ đầu Lê sơ, cùng với việcNho giáo trở thành nền tang lí luận của Nhà nước quân chủ chuyên chế, trở thành hệ tư tướng chính thòng, giai cấp phong kiến đã bắt tay vào xây dựng chính chủ chuyên chế của mình. Với cuộc cải tổ thành công của Lê Thánh Tông, Nhà nước quân chủ chuyên chế được hoàn thiện. Đến triều Nguyễn, tính chuyên chế của nền quân chủ được tăng cường một bước mới.
Đương nhiên, chính thể quAn chủ Đại Việt dù là quân chủ chuyên chế vẫn luôn luôn dựa trên nền tảng trung ương tập quyền. Sự xác lập và hoàn thiện Nhà nước trung ương tập quyền do những nguyên nhân và dựa trên cơ sở sau đây:
- Cộng đồng dân tộc Đại Việt và Nhà nước phong kiến thường xuyên phải đương đầu với hoạ xâm lăng từ phương Bắc.
- Trị thuỷ và thuỷ lợi là công việc lớn lao và thường xuyên của cả cộng đồng dân tộc. Phải có một Nhà nước trung ương tập quyền mới có khả năng huy động đủ sức người, sức của và chỉ đạo, tổ chức công cuộc chống ngoại xâm và công cuộc trị thuỷ – thuỷ lợi.
- Với chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất, các làng xã mặc dù mang nặng tính tự quản nhưng vẫn phải phụ thuộc vào Nhà nước quân chủ và là nơi cung cấp sức người, sức của cho nhà vua.
Tính chuyên chế của Nhà nước quân chủ Đại Việt không phát triển tói mức độ cực đoan như chế độ phong kiến Trung Quốc, bởi nếu chuyên chế cực đoan thì Nhà nước Đại Việt khó có thể đoàn kết được cả cộng đồng dân tộc trong công cuộc chống thiên tai và địch họa.
Nhận xét về hình thức Nhà nước (P1)
Nếu xét về hình thức cấu trúc của Nhà nước thì các nhà nước phong kiến nói chung có hai hình thức: Phân quyền cát cứ (điển hình ở phương Tây) và trung ương tập quyền (phổ biến ở phương Đông). Ở Đại Việt, ngay từ thế kỉ X, Nhà nước trung ương tập quyển đã được xác lập, tuy chưa vũng chắc. Từ đó trở di, Nhà nước trung ương tập quyển từng bước được củng cố. Trong gần một ngàn năm, có một sò thời gian ngắn, quốc gia Đại Việt lâm vào trạng thái phân quyển cát cứ như loạn 12 sứ quân, Nam – Bắc triều, Trịnh – Nguyền phán tranh 1 nhưng nhìn chung xu hướng tập quyền là chủ yếu, Nhà nước phong kiến Đại Việt là Nhà nước trung ương tập quyền.
Nếu xét về hình thức chính thể của Nhà nước, thì các nhà Ị nước phong kiến nói chung chỉ có một hình thức là chính thể Ị quân chủ phong kiến. Chính thể quân chủ phong kiến Đại Việt trải qua hai giai đoạn phát triển.
Trong giai đoạn đầu, từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XV (trước thời Lê sơ), sự tập trung quyền lực nhà nước vào nhà vua mới ở mức độ hạn chế. Tổ chức bộ máy nhà nước của mấy triều đại đầu tiên (Ngó, Ị Đinh, Tiền Lê) còn rất đơn giản, với những vị vua còn mang đậm Ị dáng dấp của những vị thủ lĩnh và phong cách cai trị đậm màu dẫn dã. Những vị quân vương thời Lý Trần tuy đã chuyên quyền nhưng chưa chuyên chế, vừa là vua của nước, vừa là thủ lĩnh của cả cộng đồng dân tộc. Những ông vua thời Lý hay cải trang làm thường dân về các vùng quê xem dân cày cấy, hội hè. Những vị vua Lý, Trần thường sớm từ bỏ quyền lực, nhường ngồi cho con để vào chùa nương nhờ cửa phật hoặc làm thái thượng hoàng. Mỗi khi quốc gia có việc hệ trọng, các vị quân vương thường mang ra bàn bạc rất với các quần thần hoặc hỏi ý kiến của thần dân. Điển hình như Hội nghị Bình Than và Hội nghị Diên Hồng ở đời Trần, bàn kế sách và hạ quyết tâm chống quân xâm lược Nguyên Mông.
Nếu xét về hình thức chính thể của Nhà nước, thì các nhà Ị nước phong kiến nói chung chỉ có một hình thức là chính thể Ị quân chủ phong kiến. Chính thể quân chủ phong kiến Đại Việt trải qua hai giai đoạn phát triển.
Trong giai đoạn đầu, từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XV (trước thời Lê sơ), sự tập trung quyền lực nhà nước vào nhà vua mới ở mức độ hạn chế. Tổ chức bộ máy nhà nước của mấy triều đại đầu tiên (Ngó, Ị Đinh, Tiền Lê) còn rất đơn giản, với những vị vua còn mang đậm Ị dáng dấp của những vị thủ lĩnh và phong cách cai trị đậm màu dẫn dã. Những vị quân vương thời Lý Trần tuy đã chuyên quyền nhưng chưa chuyên chế, vừa là vua của nước, vừa là thủ lĩnh của cả cộng đồng dân tộc. Những ông vua thời Lý hay cải trang làm thường dân về các vùng quê xem dân cày cấy, hội hè. Những vị vua Lý, Trần thường sớm từ bỏ quyền lực, nhường ngồi cho con để vào chùa nương nhờ cửa phật hoặc làm thái thượng hoàng. Mỗi khi quốc gia có việc hệ trọng, các vị quân vương thường mang ra bàn bạc rất với các quần thần hoặc hỏi ý kiến của thần dân. Điển hình như Hội nghị Bình Than và Hội nghị Diên Hồng ở đời Trần, bàn kế sách và hạ quyết tâm chống quân xâm lược Nguyên Mông.
Bản chất của Nhà nước
Cũng như những nhà nước phong kiến khác, Nhà nước Đại Việt là thể chế chính trị bảo vệ quyền lực và quyền lợi của giai cấp phong kiến thống tri. Trong đó vua là người nắm trọn quyền lực nhà nước, là chủ sở hữu tối cao ruộng đất công trong cả nước, ở thể chế chính trị đó có hai mối quan hệ cơ bản: Vua – bầy tôi (quý tộc, quan lại), vua – thần dân. Quyền lực và quyền lợi của giai cấp phong kiến, của nhà nước và các vị quân vương được thể hiện, thực hiện và bảo vệ bằng quân đội, đội ngũ quý tộc quan liêu, lễ nghi, luật pháp. Tầng lớp quý tộc quan liêu được hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi, được phong chức, được ban tước, phẩm… được hưởng lương hàng năm, được cấp bổng lộc bằng ruộng đất để hưởng thuế. Nho giáo từng bước được đưa vào đời sống chính trị xã hội Đại Việt và trở thành hệ tư tưởng chính trị-đạo đức chính thống. Những lễ nghĩa của Nho giáo, các quy phạm pháp luật và quy tắc đạo đức dần dần hoà trộn với nhau, tạo nên mạng lưới vô hình và hữu hình, điểu chỉnh hành vi xử sự của con người trong xã hội theo trật tự gia trưởng phong kiến, trong đó hàng đầu là nguyên tắc tôn quân quyền, tư tưởng trung quân. Tuy nhiên, do tác động của yếu tố chống xâm lược mà tư tưởng trung quân luôn gắn liền với tư tưởng yêu nước (trung quân ái quốc). Nhà nước phong kiến Đại Việt không chỉ đại diện cho lợi ích của nhà vua, của giai cấp thống trị mà còn đại diện cho quyển lợi của dân tộc, của nhân dân.
Cùng với cơ sở kinh tế-xã hội, công cuộc trị thuỷ-thuỷ lợi và chống xâm lược không chỉ là yếu tố thúc đẩy Nhà nước của người Việt cổ ra đời sớm và quy định các chức năng đối nội, đối ngoại cơ bản của nhà nước phong kiến Việt Nam mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ tới bản chất của nhà nước đó. Thực hiện hai chức nâng trên một cách chủ động và thường xuyên, nhà nước phong kiến Việt Nam không chỉ bảo đảm quyền và lợi ích thống trị của tập đoàn phong kiến cầm quyền mà còn bảo đảm lợi ích của toàn xã hội và của cộng đồng dân tộc. Ý thức được sự đóng góp sức người, sức của của nhân dân là sức mạnh quyết định thắng lợi của công cuộc trị thuỷ-thuỷ lợi và chống xâm lược nên các triều đại phong kiến Việt Nam không thể không điều tiết việc hoạch định các chính sách cai trị, việc xây dựng các thiết chế nhà nước và pháp luật nhằm đáp ứng ở mức độ nhất định các yêu cầu chính đáng về kinh tế, chính trị, xã hội của dân chúng. Việc ban hành chính sách quân điền và sự tôn trọng chế độ tự trị, tự quản làng xã… cho thấy ở nhà nước phong kiến Việt Nam, tính giai cấp không quá sâu sắc và tính xã hội có phần nổi trội.
Đọc thêm tại: http://lichsuphapluatvietnam.blogspot.com/2015/07/trach-nhiem-cua-quan-lai-khi-vi-pham.html
Cùng với cơ sở kinh tế-xã hội, công cuộc trị thuỷ-thuỷ lợi và chống xâm lược không chỉ là yếu tố thúc đẩy Nhà nước của người Việt cổ ra đời sớm và quy định các chức năng đối nội, đối ngoại cơ bản của nhà nước phong kiến Việt Nam mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ tới bản chất của nhà nước đó. Thực hiện hai chức nâng trên một cách chủ động và thường xuyên, nhà nước phong kiến Việt Nam không chỉ bảo đảm quyền và lợi ích thống trị của tập đoàn phong kiến cầm quyền mà còn bảo đảm lợi ích của toàn xã hội và của cộng đồng dân tộc. Ý thức được sự đóng góp sức người, sức của của nhân dân là sức mạnh quyết định thắng lợi của công cuộc trị thuỷ-thuỷ lợi và chống xâm lược nên các triều đại phong kiến Việt Nam không thể không điều tiết việc hoạch định các chính sách cai trị, việc xây dựng các thiết chế nhà nước và pháp luật nhằm đáp ứng ở mức độ nhất định các yêu cầu chính đáng về kinh tế, chính trị, xã hội của dân chúng. Việc ban hành chính sách quân điền và sự tôn trọng chế độ tự trị, tự quản làng xã… cho thấy ở nhà nước phong kiến Việt Nam, tính giai cấp không quá sâu sắc và tính xã hội có phần nổi trội.
Đọc thêm tại: http://lichsuphapluatvietnam.blogspot.com/2015/07/trach-nhiem-cua-quan-lai-khi-vi-pham.html
Từ khóa tìm kiếm nhiều: he thong phap luat viet nam,
luật
gia long
Trách nhiệm của quan lại khi vi phạm luật tố tụng
Xuất nhập nhân tội
Được quy định từ Bộ luật triều Lê song với Bộ luật triều Nguyễn sự vi phạm này của quan xét xử mới được hiểu một cách đầy đủ, sâu sắc và chi tiết. Sự sai phạm của quan án có thể dẫn đến hậu quả xấu, để lọt tội phạm, bẻ cong luật pháp hoặc xét xử oan sai, xâm hại đến tính mạng, danh dự, sức khoẻ của người vô tội, làm giảm lòng tin của người dân đối với công lí, giảm hiệu lực của hệ thống tư pháp, vô hiệu hoá pháp luật, do vậy Hoàng Việt luật lệ quy định xử lí rất nghiêm đối với loại tội phạm này.
Điều 374 quy định: “Quan xử án sửa đổi khẩu cung, cố ý thềm bớt thì bị cách chức; cố thêm tội chết đã hành quyết thì xử tử ngang, còn như cẩu thả định án, chứng cứ không cố cơ sỏ, làm cong tội chõ người thì cũng cách chức”. Bộ luật định rõ 24 trường hợp chi tiết về sự thêm bớt và căn cứ vào đó để định tội quan án. Trường hợp bót tội cho người cũng không thể tha thứ bởi làm trái luật.
- Biện minh oan uổng:
Là quy định về trách nhiệm của quan xét xử khi thấy sự việc chứng cớ minh chứng cho tội nhân bị oan. Bộ luật quy định: Xét xử nếu có sự oan uổng, quan các nha môn ở Kinh thành hay tỉnh đều có trách nhiệm biện minh cho họ. Các quan phải kê khai đầy đủ việc oan uổng của người phạm tội với chứng tích có thật, phong kín trình tâu lên vua. Nếu biết rõ họ bị oan mà không biện lí thì xử như tội cố ý thêm tội cho người. Nếu việc vốn không có gì oan uổng mà quan xét tội căn cứ biện minh mập mờ thì cả quan xét xử và người biện minh đều bị xử 100 trượng, đồ 3 năm. Nếu vụ việc khó biện lí thì cho phép trình lên vua, chờ phiên toà ở triều đình qua Công Đồng biện lí (Đình Nghị). Nếu quả có oan uổng, có chuyện đáng thương thì thỉnh ý vua định đoạt.
- Căn cứ vào lỗi để áp dụng trách nhiệm:
Trường hợp quan không vì tư lợi nhưng do nhầm lẫn việc công mà phạm tội thì chiếu theo quy định của luật về “phạm công tội” để áp dụng hình phạt. Hình thức phạt chủ yếu là phạt lương, giáng phẩm trật, lưu nhiệm, điều động đi nơi khác. Trường hợp quan vì mục đích cá nhân mà phạm tội thì áp dụng mức phạt nặng hơn.
Như vậy, bên cạnh việc quy định về trình tự thủ tục tố tụng, luật pháp triều Nguyễn còn định rõ trách nhiệm của quan chức trong hoạt động xét xử. Mỗi hành vi sai phạm đều có chế tài tương ứng như: giáng phẩm trật, bãi chức, phạt lương, điều động đi nơi khác. Nếu vi phạm nặng thì áp dụng hình phạt đồ, lưu, tử. Các trường hợp này luật Gia Long gọi là “phản toạ”. Nghĩa là, quan buộc tội sai cho người thì căn cứ vào đó mà định tội quan xét xử.
Hoạt động lập pháp của triều Nguyên đã có những thành tựu đáng kể. Bộ Hoàng Việt luật lệ và những tập Hội điển lớn được ban hành đã tạo cơ sở pháp lí cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc nhiều lĩnh vực thống nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Về kĩ thuật lập pháp, cũng như pháp luật triều Lê, pháp luật triều Nguyễn thiên về luật thực hành hơn là tổng luận.
. Về tính chất, đó là pháp luật của chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến, thể hiện tư tưởng chính trị pháp lí Nho giáo, ở mức độ nhất định có sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị đồng thời vẫn chú trọng tới các phong tục tập quán của chế độ làng xã Việt Nam.
Hoàng Việt luật lệ là bộ luật có quy mô lớn, có phạm vi điều chỉnh bao quát nhiều lĩnh vực và lần đầu tiên được áp dụng từ Đàng Trong đến Đàng Ngoài, góp phần điều chỉnh nhiều loại quan hệ xã hội phong phú, đa dạng, phức tạp của xã hội Việt Nam thế kỉ XIX.
Đọc thêm tại: http://lichsuphapluatvietnam.blogspot.com/2015/07/thu-tuc-bat-nguoi-giam-giu-p2.html
Được quy định từ Bộ luật triều Lê song với Bộ luật triều Nguyễn sự vi phạm này của quan xét xử mới được hiểu một cách đầy đủ, sâu sắc và chi tiết. Sự sai phạm của quan án có thể dẫn đến hậu quả xấu, để lọt tội phạm, bẻ cong luật pháp hoặc xét xử oan sai, xâm hại đến tính mạng, danh dự, sức khoẻ của người vô tội, làm giảm lòng tin của người dân đối với công lí, giảm hiệu lực của hệ thống tư pháp, vô hiệu hoá pháp luật, do vậy Hoàng Việt luật lệ quy định xử lí rất nghiêm đối với loại tội phạm này.
Điều 374 quy định: “Quan xử án sửa đổi khẩu cung, cố ý thềm bớt thì bị cách chức; cố thêm tội chết đã hành quyết thì xử tử ngang, còn như cẩu thả định án, chứng cứ không cố cơ sỏ, làm cong tội chõ người thì cũng cách chức”. Bộ luật định rõ 24 trường hợp chi tiết về sự thêm bớt và căn cứ vào đó để định tội quan án. Trường hợp bót tội cho người cũng không thể tha thứ bởi làm trái luật.
- Biện minh oan uổng:
Là quy định về trách nhiệm của quan xét xử khi thấy sự việc chứng cớ minh chứng cho tội nhân bị oan. Bộ luật quy định: Xét xử nếu có sự oan uổng, quan các nha môn ở Kinh thành hay tỉnh đều có trách nhiệm biện minh cho họ. Các quan phải kê khai đầy đủ việc oan uổng của người phạm tội với chứng tích có thật, phong kín trình tâu lên vua. Nếu biết rõ họ bị oan mà không biện lí thì xử như tội cố ý thêm tội cho người. Nếu việc vốn không có gì oan uổng mà quan xét tội căn cứ biện minh mập mờ thì cả quan xét xử và người biện minh đều bị xử 100 trượng, đồ 3 năm. Nếu vụ việc khó biện lí thì cho phép trình lên vua, chờ phiên toà ở triều đình qua Công Đồng biện lí (Đình Nghị). Nếu quả có oan uổng, có chuyện đáng thương thì thỉnh ý vua định đoạt.
- Căn cứ vào lỗi để áp dụng trách nhiệm:
Trường hợp quan không vì tư lợi nhưng do nhầm lẫn việc công mà phạm tội thì chiếu theo quy định của luật về “phạm công tội” để áp dụng hình phạt. Hình thức phạt chủ yếu là phạt lương, giáng phẩm trật, lưu nhiệm, điều động đi nơi khác. Trường hợp quan vì mục đích cá nhân mà phạm tội thì áp dụng mức phạt nặng hơn.
Như vậy, bên cạnh việc quy định về trình tự thủ tục tố tụng, luật pháp triều Nguyễn còn định rõ trách nhiệm của quan chức trong hoạt động xét xử. Mỗi hành vi sai phạm đều có chế tài tương ứng như: giáng phẩm trật, bãi chức, phạt lương, điều động đi nơi khác. Nếu vi phạm nặng thì áp dụng hình phạt đồ, lưu, tử. Các trường hợp này luật Gia Long gọi là “phản toạ”. Nghĩa là, quan buộc tội sai cho người thì căn cứ vào đó mà định tội quan xét xử.
Hoạt động lập pháp của triều Nguyên đã có những thành tựu đáng kể. Bộ Hoàng Việt luật lệ và những tập Hội điển lớn được ban hành đã tạo cơ sở pháp lí cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc nhiều lĩnh vực thống nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Về kĩ thuật lập pháp, cũng như pháp luật triều Lê, pháp luật triều Nguyễn thiên về luật thực hành hơn là tổng luận.
. Về tính chất, đó là pháp luật của chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến, thể hiện tư tưởng chính trị pháp lí Nho giáo, ở mức độ nhất định có sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị đồng thời vẫn chú trọng tới các phong tục tập quán của chế độ làng xã Việt Nam.
Hoàng Việt luật lệ là bộ luật có quy mô lớn, có phạm vi điều chỉnh bao quát nhiều lĩnh vực và lần đầu tiên được áp dụng từ Đàng Trong đến Đàng Ngoài, góp phần điều chỉnh nhiều loại quan hệ xã hội phong phú, đa dạng, phức tạp của xã hội Việt Nam thế kỉ XIX.
Đọc thêm tại: http://lichsuphapluatvietnam.blogspot.com/2015/07/thu-tuc-bat-nguoi-giam-giu-p2.html
Từ khóa tìm kiếm nhiều: hệ thống pháp luật việt nam,
luat
gia long
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



